MENU

LIÊN KẾT


(Viết tặng những người Thầy thuốc )
images (1)
Như bông hoa nở giữa đời
Nhẹ nhàng em đến với người ốm đau
Có cần phép thuật chi đâu
Nàng tiên áo trắng bay vào cõi nhân…

Thương người chẳng quản gian nan
Sớm, khuya giường bệnh ân cần hỏi han
Bàn tay rất đỗi dịu dàng
Em mang đi cả trăm ngàn âu lo

Bước ra – để lại dặn dò
Bước vào – xóa nỗi buồn xo cho người
Ơi bông hoa của cuộc đời!
“Lương y từ mẫu” như lời Người răn…

Dẫu còn vất vả khó khăn
Không làm phai ánh trăng ngần trong em
Trăm năm sen vẫn là sen
Tấm lòng thầy thuốc – mẹ hiền, tỏa hương..
Thơ ST 27/2/2015 Continue reading


Nguyen Ngoc Anh. MD, Department of Anesthesiology and Reanimation, People Hospital 115. Le Hoang Quan. MD, City International Hospital
Abstract


Cardiovascular complications occur after brain injury are well recognized in many previous reports, with varied clinical features such as transient atrial fibrillation after minor head injury, ECG abnormalities and myocardial injury after subarachnoid hemorrhage or malignant arrhythmias in patients with severe traumatic brain injury and intracranial haemorrhage sustained. Cardiovascular complications are common afterbrain injury and associated with increased morbidity and mortality.Myocardial dysfunction after brain injury still can be challenging even for the most experienced clinicians. In the neurovascular intensive care unit, priorities historically have focused on preserving brain tissue and subsequently assessing secondary complications which can be caused of non-neurological complications. Recent research suggests that cardiac dysfunction after brain injury may have a significant effect on outcomes. The purpose of this article to show more about the incidence, causes and consequences of cardiovascular complications in patients with severe brain injury in ICU (Severe traumatic brain injury, aneurysmal subarachnoid hemorrhage…) to promote optimal prevention, treatment and prognosis.


Key words: Cardiovascular complications of brain injury, traumatic brain injury, subarachnoid hemorrhage


Continue reading

tác giả: Hieuvu

Bảy điều bạn không nên để cho bác sĩ làm

Truyền máu được bình chọn là một trong những thủ thuật ngoại khoa không cần thiết phổ biến nhất trong một cuộc thăm dò các bác sĩ gây mê gần đây. Bằng chứng về việc khi nào truyền máu là cần thiết đã thay đổi nhưng bác sĩ vẫn thích làm theo cách của họ (get stuck in their ways). Vậy nên dưới đây là những điều bạn nên biết và cân nhắc kĩ lưỡng về truyền máu và một số thủ thuật y khoa khác.

 


1. Đừng để cho bác sĩ của bạn… cho bạn truyền máu (tất nhiên nếu không cần thiết)

Cần nói rõ là việc truyền máu để cứu sống người bệnh không có gì phải bàn cãi cả nhưng nếu truyền máu khi không thực sự cần thiết có liên quan đến khả năng tử vong cao hơn.

Một nghiên cứu vừa được công bố tháng này quan sát trên những người nhập viện trong tình trạng mất máu nghiêm trọng sau các chấn thương cơ học. Với những người được đánh giá khi mới đến là có hơn 50% nguy cơ tử vong, nếu được truyền máu có tỉ lệ sống cao gấp 2 lần người không được truyền. Nhưng với những người mà tỉ lệ tử vong chỉ dưới 6% nếu được truyền thì khả năng tử vong lại cao hơn 5 lần những người không có chỉ định truyền.

Có một điều chưa rõ là tại sao nhưng một lượng máu nhận của người khác lại làm suy yếu nhẹ hệ miễn dịch hoặc hiếm hơn là gây ra tình trạng viêm phổi (lung inflammation), theo lời của Lee Fleisher, một bác sĩ gây mê ở Đại học Pennsylvania tại Philadelphia.

 


2. Đừng để cho bác sĩ… tiến hành phẫu thuật cho bạn vào ngày Thứ Sáu

Một số người không thích thứ Hai nhưng đây lại là một ngày tốt cho một cuộc mổ.

Mổ cấp cứu đương nhiên là nên được tiến hành bất cứ khi nào các bác sĩ chỉ định cho bạn nhưng nếu bạn đối mặt một cuộc mổ phiên và được phép chọn ngày thì hãy nhớ rằng bạn càng chọn những ngày đầu tuần thì càng tốt.

Những người mổ vào ngày thứ Sáu có khả năng tử vong cao hơn 44% so với những người được mổ vào ngày thứ Hai trong một nghiên cứu vào năm ngoái.

Tình trạng bệnh nhân có xu hướng xấu đi khi được chăm sóc sau mổ vào những ngày cuối tuần vì bệnh viện có ít nhân viên trực hơn và những người này thường là bác sĩ ít kinh nghiệm. Bác sĩ Paul Aylin, trường đại học Hoàng Gia London, người đã tiến hành nghiên cứu này nói: “48 giờ đầu tiên sau phẫu thuật là giai đoạn phục hồi quan trong nhất của một bệnh nhân”.

Tuy nhiên, Aylin nhanh chóng chỉ ra rằng phần lớn các cuộc mổ phiên có nguy cơ tử vong rất thấp (chỉ dưới 1%) nên việc tăng 44% nguy cơ vẫn là chỉ là nguy cơ nhỏ trong ngưỡng tuyệt đối (absolute terms). Khi mà số của bạn đã được định đoạt thì rất khó thay đổi.

3. Đừng để bác sĩ của bạn… đụng tới bạn bằng con dao cạo

Lông tóc rất bẩn nên nếu bạn sẽ được mổ mở bạn nên nghĩ rằng đó sẽ là phần cuối cùng bạn muốn cạo đi. Vì thế công việc từ lâu đã làm để chuẩn bị trước mổ là cạo bất kì phần lông nào của cơ thể. Đối với nam giới thì là gần như toàn bộ. Bác sĩ sẽ sử dụng dao cạo dùng một lần để loại bỏ lông, đôi khi làm mà không cần nhiều nước.

Rắc rối là ở chỗ việc làm này gây ra vấn đề đích xác cần phải đề phòng đó là nhiễm trùng vết thương. “Lưỡi dao cạo gây tổn thương lớp thượng bì của da gây nên một vết cắt rất nhỏ với kích thước hiển vi”, Judith Tanner, giáo sư về điều dưỡng tại đại học De Montfort ở Leicerter, Vương Quốc Anh, người đã xem lại nghiên cứu trên đối tượng (reviewed the research on the subject), cho biết. “Vi khuẩn từ trên da bạn sẽ xâm nhập vào trong và nhân lên”

Lời khuyên chính thức của Anh và Mỹ hiện tại là lông cơ thể không nên cạo bỏ trừ khi nó ảnh hưởng tới đường phẫu thuật hoặc băng vết mổ, trong những trường hợp đó thì nên sử dụng kẹp điện. Nhưng bạn vẫn sẽ thấy những lưỡi dao rẻ tiền được sử dụng, Tanner nói. “Thật là thất vọng” (“it’s dispiriting”)

 


4. Đừng để bác sĩ của bạn… thay cho bạn khớp háng mới – hãy lấy một cái “cũ” để thay

Khi công nghệ ngày càng phát triển, cái mới hơn bao giờ cũng tốt hơn nhưng với các thiết bị y tế thì điều này không thực sự đúng. Không giống với Mỹ, ở Châu Âu các thiết bị mới không cần phải trải qua cuộc thử nghiệm có kiểm soát ngẫu nhiên kéo dài nhiều năm trước khi có mặt trên thị trường. Chúng chỉ đơn thuần phải vượt qua một số bài kiểm tra về tính an toàn cơ bản.

Có trên 200 loại khớp háng nhân tạo khác nhau ở Châu Âu và hàng năm đều có các thiết kế mới được giới thiệu. Các thiết kế mới này phải mất tới 15 năm hoặc hơn để xem liệu rằng chúng có hiệu quả như những cái hiện tại đang dùng không. Vấn đề gần đây nhất được phát hiện là một số khớp hông bằng kim loại, xuống cấp quá nhanh, giải phóng kim loại vào máu.

Một số người thích thử những công nghệ mới nhất, Sion Glyn-Jones, phẫu thật viên chỉnh hình tại bệnh viện đại học Oxford tại Vương Quốc Anh cho biết. “Họ đọc được trên tờ Daily Mail. Chúng tôi mất rất nhiều thời gian để giải thích rằng “Không, nó quá mới”. Chẳng có phẫu thuật viên nào miễn dịch được những chiêu bài quảng cáo của nhà sản xuất. “Cần thiết phải đổi mới nhưng cần giữ cân bằng giữa đổi mới và an toàn”, Glyn-Jones nói.

5. Đừng để bác sĩ của bạn tiến hành kiểm tra sức khỏe định kỳ

Kiểm tra sức khỏe định kỳ đã trở nên rất phổ biến ở Mỹ, được thực hiện 1 năm/lần. Tại Anh Gần đây chúng được xem như là “một cuộc kiểm tra vào giữa cuộc đời” (“midlife MOT”) được thực hiện 5 năm/lần. Kiểm tra sức khỏe chủ yếu tập trung vào giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh tim mạch. Các bác sĩ đo huyết áp, kiểm tra nồng độ cholesterol, chỉ số khối cơ thể và cho một số lời khuyên về sức khỏe.

Kiểm tra sức khỏe định kỳ tạo cảm giác chung là điều tuyệt với nhất trong ngành y học dự phòng nhưng chúng đang gây ra tranh cãi đáng ngạc nhiên giữa những người ủng hộ y học dựa trên bằng chứng. Đó là vì chúng là một dạng sàng lọc hay nói cách khác, tìm kiếm bệnh ở những người không có triệu chứng. Và việc sàng lọc gây ra một thói quen xấu nhiều hơn là tốt nếu nó được tiến hành mà không có các thử nghiệm lớn để trả lời về tính hiệu quả của nó.

Những nhược điểm tiềm năng của việc sàng lọc là nó có thể gây lo lắng không cần thiết cho mọi người, yêu cầu sự đảm bảo giả tạo hoặc làm những xét nghiệm hoặc điều trị không thực sự cần. Điều đó đã xảy ra với một số xét nghiệm sàng lọc như xét nghiệm kháng nguyên đặc hiệu tuyến tiền liệt (PSA), tự kiểm tra vú và có lẽ cả chụp vú nữa.

Những thử nghiệm về tính hiệu quả của những cuộc kiểm tra sức khỏe định kỳ đã được tiến hành và chúng đã gây thất vọng hoàn toàn. Nghiên cứu gần nhất và là một trong những nghiên cứu lớn nhất trên gần 60000 người Đan Mạch được đề nghị khám sức khỏe 5 năm/lần. 5 năm sau giai đoạn này không có bất cứ tác động nào lên tỉ lệ nhồi máu cơ tim hoặc tỉ lệ tử vong chung.

Điều đầu tiên chúng tôi biết về sàng lọc là nó gây hại”, Peter Gotzsche, người đứng đầu trung tâm Nordic Cochrane tại Copehagen, Đan Mạch cho biết. “Đôi khi thì lợi ích lớn hơn là gây hại nhưng thỉnh thoảng lại không”

 



6. Đừng để cho bác sĩ của bạn… nỗ lực hồi sức cho bạn khi nó là vô nghĩa.

Trong thực tế các bác sĩ thường tiến hành hồi sinh tim phổi (CPR) không phù hợp với những bệnh nhân có rất ít cơ hội sống sót nhưng không mấy khi họ bị chỉ trích về việc làm này.

David Newman, bác sĩ khoa cấp cứu tại bệnh viên Mount Sinai ở thành phố New Youk, cho biết CPR không phải là một lựa chọn hay trong những giờ phút cuối cùng của bạn. Để có cơ hội thành công, bác sĩ phải ép thật mạnh lên thành ngực của bệnh nhân đến mức làm gãy xương sườn và rách tim, phổi. Ông nói thêm “Đó là một hành động không xâm nhập nhưng bạo lực”

Tất nhiên là CPR có thể cứu sống những người rõ ràng còn khỏe bị ngừng tim đột ngột. Newman nói: “Vấn đề là ở chỗ chúng ta mở rộng CPR cho những đối tượng đang sắp chết sau một quá trình diễn biến hàng tháng, hàng năm trời”, ví dụ như là ung thư giai đoạn cuối. “Cơ hội sống sót của họ gần như bằng không”

Tất nhiên khi bạn sắp chết, bạn không thể yêu cầu bác sĩ chỉ đứng xung quanh. Tuy nhiên, bạn có thể đưa ra vấn đề này với cacs bác sĩ khi bạn đang còn khỏe bằng một tuyên bố hợp pháp nếu bạn không muốn trải qua những biện pháp kinh khủng như thế này trong những giây phút cuối cùng của cuộc đời.

7. Đừng để bác sĩ của bạn… chạm vào bạn mà chưa rửa tay

Thỉnh thoảng bạn mong muốn bác sĩ của bọn trở nên thân thiện hơn bằng một động tác khích lệ động viên nhưng bạn đã nhìn thấy họ rửa tay trước khi tiếp xúc với bạn chưa? Nếu chưa, hãy mỉm cười và lịch sự nhắc nhở họ.

Ước tính có 1 trong 15 bệnh nhân nhập viện ở Anh bị nhiễm khuẩn trong khi nằm viện – nếu không may có thể dính phải những chủng siêu độc lực gây ra nhiễm trùng huyết (MRSA) hoặc tiêu chảy (Clostridium difficle). Một trong những nguyên nhân hàng đầu là do những nhân viên y tế không rửa tay khi tiếp xúc với bệnh nhân.

Sheldon Stone tại đại học y khoa London nói: “Nếu rửa tay là một biện pháp điều trị bằng thuốc, bạn sẽ xếp hàng để sử dụng chúng”. Ông cho biết rằng mỗi mililit cồn sát khuẩn được bệnh viện bổ sung để sử dụng cho mỗi bệnh nhân, mỗi ngày, sẽ giảm 1% tỉ lệ nhiễm MRSA.

Stone cũng nhận thấy nguyên nhân chính các nhân viên không rửa tay là do quên hay mất tập trung. Một yếu tố khác là một số nhân viên thậm chí không biết họ cần rửa tay trong hoàn cảnh nào , ví dụ như sau khi tháo bỏ găng – vì vi khuẩn có thể xuyên qua lớp nhựa của găng.

Nhìn vào mặt tích cực thì đào tạo theo kiểu cầm tay chỉ việc giúp cải thiện tỉ lệ rửa tay, đặc biệt nếu những nhân viên lâu năm phản hồi về những người vi phạm. Stone nói: “Bạn có thể dạy những người cũ những kỹ năng mới”

 

Vũ Ngọc Hiếu1
Theo: New Scientist

Continue reading

PHÂN SUẤT CO RÚT MÔ TẢ CHỨC NĂNG TÂM THU CƠ BẢN CỦA TIM. TRONG TRƯỜNG HỢP KHÔNG CÓ CÁC BẤT THƯỜNG VẬN ĐỘNG VÙNG THÀNH TIM, ĐIỀU NÀY CÓ THỂ ĐẠI DIỆN CHỨC NĂNG TOÀN BỘ LV.

Kích thước buồng tim

Phép đo tại các chu chuyển cơ bản của tim như trong nghiên cứu tiêu chuẩn tối thiểu.

Phạm vi bình thường được đưa ra trong Phụ lục 1.

Tính phân suất co rút (FS) bằng cách sử dụng M-mode hoặc 2D để đo kích thước thất trái (LV) tâm trương (LVDD) và tâm thu (LVSD):

FS (%) = 100 × (LVDD- LVSD)/ LVDD

Vị trí đo kích thước thất trái trên hình ảnh TM hoặc 2D

Phân suất co rút mô tả chức năng tâm thu cơ bản của tim. Trong trường hợp không có các bất thường vận động vùng thành tim, điều này có thể đại diện chức năng toàn bộ LV.

Chuyển động vùng thành tim

Quan sát từng khu vực động mạch cấp máu.

Mô tả bất thường vận động thành bởi phân khúc theo độ dày khi tâm thu và giai đoạn (Bảng 2.1 và Hình 2.1).

Bảng 2.1 Chuyển động thành tim theo giai đoạn và độ dày

Điểm Vận động thành tim
1 Bình thường
2 Giảm chức năng vận động (< 50% chuyển động bình thường)
3 Mất chức năng vận động (vắngmặt)
4 Vận động nghịch thường
5 Phình thành tim

Phân đoạn chỉ nên ghi nếu ít nhất một nửa màng trong tim thấy đầy đủ. Chỉ số chuyển động thành tim được tính bằng cách chia tổng số điểm chuyển động thành tim cho số các phân đoạn được tính điểm.

Hình 2.1 Vùng cấp máu của động mạch tim. Các chuyển động của màng trong tim trong mỗi vùng động mạch cấp máu được mô tả (Bảng 2.1). Có 17 phân đoạn được đề xuất cho các nghiên cứu tương phản cơ tim hoặc khi so sánh hai hình ảnh với phương thức khác nhau. Điều này không thay thế cho mô hình 16 phân đoạn sử dụng thường xuyên.

Chức năng toàn bộ thất trái

Một số phép đo để xác định chức năng tâm thu toàn bộ thất trái đã được áp dụng. Một số hoặc tất cả có thể được sử dụng, tùy thuộc vào việc ưa thích thực hành của kỹ thuật viên siêu âm tim.

Thể tích thất trái (LV) và phân suất tống máu

Với kinh nghiệm tốt, phân suất tống máu có thể được ước tính bằng quan sát. Một giá trị ± 5% sai số hoặc một dải (ví dụ, 40-50%) được đưa ra, dự toán một con số không bao giờ có thể chính xác.

Nếu không, thể tích tâm thu và tâm trương được tính toán. Điều này có thể được thực hiện bằng cách sử dụng phương pháp diện tích – chiều dài nếu LV đối xứng, nhưng quy tắc sửa đổi của Simpson (4 và 2 buồng) được sử dụng nếu có một thành tim chuyển động bất thường.

Phân suất tống máu (EF) (Bảng 2.2) được đưa ra bởi những điều sau đây:

EF (%) = 100 × (Thể tích tâm trương – thể tích tâm thu)/ Thể tích tâm trương.

Quy tắc của Simpson cũng nên được sử dụng nếu quyết định lâm sàng dựa trên ngưỡng phân suất tống máu (ví dụ, để cấy ghép máy khử rung tim).

Bảng 2.2 Phân loại chức năng thất trái (LV) bằng phân suất tống máu (EF).

Bình thường Giảm nhẹ Giảm vừa Giảm nặng
≥ 55% 45 – 54% 30 – 44% < 30%

Khoảng cách tống máu

Khoảng cách tống máu tương tự như tích phân vận tốc tính theo thời gian (VTI) dưới động mạch chủ, và được đo bằng Doppler xung tại đường ra thất trái ở mặt cắt năm buồng tim.

Bảng 2.3 Phạm vi của VTI dưới động mạch chủ

Tuổi Bình thường Giảm nặng
> 50 12 – 20 < 7.0
≤ 50 17 – 35 < 11.0

Không có mối quan hệ vững chắc với phân suất tống máu, bởi vì thất trái với thể tích tâm trương lớn có thể cho ra một thể tích máu bình thường lúc nghỉ, ngang bằng nếu phân số tống máu giảm vừa hoặc nhẹ.

Thể tích nhát bóp có thể được tính từ khoảng thời gian tống máu, dùng bán kính đường ra thất trái (r).

SV (stroke volume) = πr2 × VTI1

Cung lượng tim  được tính bằng SV x tần số tim.

LV dP / dt

Nếu hở van hai lá được đo bằng Doppler liên tục, thời gian giữa 1.0 – 3.0 m/s trên đường dốc lên của sóng cho phép tính tỷ lệ phát triển áp lực, dP/dt (hình 2.2).

Hình 2.2 Ước tính LV dP / dt. Đo thời gian (dt) từ 1 đến 3 m / s

Bình thường có giá trị > 1200mmHg, chúng tương ứng với thời gian giữa 1.0 và 3.0 m/s.

Bảng 2.4 Hướng dẫn phân loại chức năng LV qua dòng hở hai lá

Thông số Bình thường Giảm nhẹ tới vừa Giảm nặng
dP/dt (mmHg) > 1200 800 – 1200 < 800
1 – 3m/s > 25 25 – 40 > 40

Chức năng trục dài

Điều này nên được đánh giá nếu các biện pháp thông thường của chức năng tâm thu thất trái không rõ ràng hoặc nếu có dấu hiệu sớm của rối loạn chức năng tâm thu cần phải được loại trừ (ví dụ, rối loạn thần kinh, lịch sử gia đình bệnh cơ tim giãn, hở động mạch chủ mãn tính).

Vị trí Doppler mô trong cơ tim ở vòng van hai lá (hình 2.3) và đo vận tốc đỉnh tâm thu (Bảng 2.5).

Phương pháp khác tính chức năng trục dài trên TM (Hình 2.4).

Hình 2.3 Hình ảnh Doppler mô. Các tín hiệu xung ở vòng van hai lá với điểm cao vận tốc tâm thu được đánh dấu.

Bình thường Giảm nặng
Vận tốc đỉnh tâm thu – Doppler mô (cm/s)
< 65 tuổi > 85
≥ 65 tuổi ≥ 56
Tham khảo TM
Vách liên thất > 10 < 77
Thành bên > 12 < 7

Bảng 2.5 Hướng dẫn chức năng tâm thu dài trục LV

Hình 2.4 Hình tham khảo. Tính chức năng trục dài trên TM.

Đánh giá chức năng tâm trương thất trái

Điều này cho biết thông tin về việc áp lực đổ đầy thất và tiên lượng. Thời gian A E rút ngắn giảm tốc độ (125 ms) chỉ ra tiên lượng xấu, độc lập với chức năng tâm thu.

Vấn đề khác

Các biến chứng của rối loạn chức năng thất trái:

Hở van hai lá.

Huyết khối.

Chức năng thất phải (RV) và áp lực động mạch phổi.

Danh sách kiểm tra để trả lời chức năng tâm thu LV

  1. Kích thước buồng thất trái.
  2. Chức năng vận động vùng.
  3. Chức năng toàn bộ thất trái.
  4. Chức năng tâm trương.
  5. Các biến chứng (ví dụ như huyết khối, hở van hai lá).
  6. Chức năng thất phải (RV) và áp lực động mạch phổi.

  1. Đại cương:

Kiểm soát chặt chẽ đường huyết ở bệnh nhân đái tháo đường – làm giảm đường huyết đến gần mức bình thường nhất có thể được – sẽ làm giảm các biến chứng, giảm tỷ lệ tử vong.

Mức độ kiểm soát Tốt Vừa Kém
Đường huyết lúc đói (mmol/l)

Đường huyết sau ăn 2h (mmol/l)

4,4-6,1

4,4-8,0

£ 7,8

£10,0

>7,8

>10,0

HbA1c (%) <6,5-7,0 7 – 7,5 >7,5

Các biện pháp kiểm soát đường huyết ở bệnh nhân đái tháo đường bao gồm: điều chỉnh chế độ ăn uống, tập luyện thể lực hợp lý, kết hợp với sử dụng các thuốc có tác dụng hạ đường huyết.

Các thuốc điều trị đái tháo đường gồm có Insulin và các thuốc uống. Insulin là nội tiết tố tuyến tụy có khả năng làm hạ đường máu bằng cách giúp đường vào trong tế bào cơ, gan và mỡ để sinh năng lượng cung cấp cho mọi hoạt động của cơ thể. Các thuốc uống hạ đường huyết được phân loại dựa theo cơ chế tác dụng cơ bản của thuốc, gồm có: thuốc kích thích làm tăng tiết insulin, thuốc làm tăng nhạy cảm insulin và tăng sử dụng insulin ở ngoại vi, thuốc làm giảm hấp thu các chất đường bột sau ăn…

  1. Các nhóm thuốc uống hạ đường huyết

Có nhiều loại thuốc uống có tác dụng hạ đường máu; một vài nhóm thuốc đã từng được sử dụng nhưng hiện ít dùng hoặc không còn được khuyến cáo sử dụng do có tác dụng phụ nguy hiểm.

Các nhóm thuốc hiện đang được ưa dùng:

2.1. Các thuốc kích thích làm tăng tiết insulin:

2.1.1. Các Sulfonylurea (Sulphamid hạ đường máu)

* Các thuốc thế hệ 1 (Tolbutamid, Chlopropamid, Diabetol… – 250/500mg) hiện hầu như không sử dụng vì có trọng lượng phân tử cao, dễ gây độc với thận.

* Các thuốc thế hệ 2:

Tên gốc Một số biệt dược
Gliclazide Diamicron 80mg

Diamicron MR 30/60mg

Clazic SR 30mg

Glibenclamide Daonil 5mg

Maninil 3,5mg

Glipizid Glucotrol 5/10mg

Glucotrol XR 2,5/ 5/ 10mg

Minidiab 5mg

Glimepiride Amaryl  1/ 2/ 4mg

Glicompid 2mg

Myaryl 2mg

Glyburide Diabeta / Micronase / Glynase 5mg

+ Tác dụng phụ có thể gặp: nhìn mờ/ táo bón/ buồn nôn/ chán ăn/ rối loạn tiêu hóa, tiêu chảy/ mẩn ngứa/ vã mồ hôi, đau đầu/ dễ bị hạ đường huyết.

+ Chống chỉ định: ĐTĐ typ 1/ ĐTĐ nhiễm toan ceton/ Hôn mê/ BN suy gan, suy thận nặng/ phụ nữ có thai hoặc cho con bú/ mẫn cảm với các thành phần của thuốc.

+ Liều dùng: theo chỉ định của bác sỹ.

2.1.2. Nhóm Meglitinide

+ Có hai chế phẩm là Repaglinide (Ripar…) và Nateglitinide.

+ Tác dụng: kích thích tiết Insulin nhanh, thuốc thải trừ nhanh nên có thời gian tác dụng ngắn. Vì thế giảm nguy cơ hạ đường huyết.

+ Chống chỉ định: BN suy gan/ mẫn cảm với các thành phần của thuốc.

+ Liều dùng: theo chỉ định của bác sỹ.

2.2. Nhóm Biguanide – Metformin:

+ Một số biệt dược: Glucophage, Glucophage XR, Glucofast, Siofor…

+ Tác dụng: làm tăng nhạy cảm Insulin ở các mô ngoại vi, giảm sản xuất Glucose tại gan, làm chậm hấp thu chất đường bột trong ống tiêu hóa.

+ Tác dụng phụ có thể gặp: rối loạn tiêu hóa, tiêu chảy/ buồn nôn/ nhiễm toan lactic

+ Chống chỉ định: ĐTĐ typ 1/ BN suy gan, suy thận nặng/ BN suy tim/ phụ nữ có thai hoặc cho con bú/ mẫn cảm với các thành phần của thuốc.

+ Liều dùng: theo chỉ định của bác sỹ.

2.3. Nhóm ức chế men α – Glucosidase

+ Một số biệt dược: Acarbose (Glucobay 50mg, Precose…); Miglitol (Glyset 25/50mg); Voglibose (Basen  0,2mg…)

+ Tác dụng: thuốc làm giảm hấp thu chất đường  bột từ ống tiêu hóa vào máu.

+ Tác dụng phụ có thể gặp: đau bụng/ rối loạn tiêu hóa, tiêu chảy…

+ Chống chỉ định: bệnh đường ruột mạn tính gây giảm hấp thu/ phụ nữ có thai hoặc cho con bú/ mẫn cảm với các thành phần của thuốc.

+ Liều dùng: theo chỉ định của bác sỹ.

2.4. Nhóm Thiazolidinedione

+ Một số biệt dược: Pioglitazone (Actos, Pionorm…)

+ Tác dụng: thuốc làm tăng nhạy cảm insulin.

+ Tác dụng phụ có thể gặp: giữ nước gây phù, tăng nguy cơ ung thư bàng quang …

+ Chống chỉ định: suy tim xung huyết/ suy gan/ phụ nữ có thai hoặc cho con bú/ mẫn cảm với các thành phần của thuốc.

+ Liều dùng: theo chỉ định của bác sỹ.

2.5. Nhóm ức chế men DPP-4

+ Một số biệt dược: Sitagliptin (Januvia), Vildagliptin (Galvus); Saxagliptin (Onglyza)…

+ Tác dụng: thuốc làm ức chế sự giải phóng glucagon, dẫn đến làm tăng tiết insulin.

+ Tác dụng phụ có thể gặp: viêm mũi xoang, đau đầu, buồn nôn, quá mẫn da

+ Chống chỉ định: phụ nữ có thai hoặc cho con bú/ mẫn cảm với các thành phần của thuốc.

+ Liều dùng: theo chỉ định của bác sỹ.

  1. Insulin

3.1. Một số loại Insulin

Loại Insulin Bắt đầu tác dụng (h) Đỉnh tác dụng (h) Tác dụng kéo dài 

(h)

Insulin tác dụng tức thì  (hiện chưa có ở Việt Nam):  Lispro / Aspart
Insulin nhanh/ Insulin thường
Regular

Actrapid

Scilin R

Humulin R

0,5 –  >1 2 – 3 3 – 6
Insulin bán chậm
NPH

Insulartard

Insulin lente

Scilin N

Humulin N

2 – 4 6 – 12 10 – 18
Insulin tác dụng kéo dài
Glargin (Lantus)

Levemir

5 24 24
Một vài dạng Insulin trộn sẵn

Insulin Mixtard 30/70 (30% Actrapid + 70% Insulartard)

Scilin M

Humulin M

3.2. Chỉ định dùng Insulin:

– Bệnh nhân ĐTĐ typ 1;

– ĐTĐ ở phụ nữ có thai hoặc cho con bú;

– Điều trị các cấp cứu tăng đường huy

– ĐTĐ typ 2 ở những giai đoạn đặc biệt: có bệnh cấp tính, suy gan/suy thận, chống chỉ định các thuốc uống hạ đường huyết hoặc không đáp ứng với thuốc uống hạ đường huyết.

3.3. Tác dụng phụ của insulin:

– Hạ đường huyết

– Hạ Kali huyết

– Giữ muối, phù; tăng cân.

– Loạn dưỡng mô mỡ dưới da tại nơi tiêm

– Dị ứng tại chỗ tiêm/ Mẩn ngứa

3.4. Chống chỉ định:    Hạ đường huyết

3.5. Các phác đồ tiêm Insulin:

Có thể phối hợp Insulin cùng một hoặc nhiều loại thuốc uống hạ đường huyết. Cũng có thể dùng phối hợp nhiều mũi Insulin mỗi ngày (2 mũi, 3 mũi hoặc 4 mũi tiêm insulin mỗi ngày), có hoặc không kết hợp với thuốc uống.

Tùy thuộc vào tình trạng bệnh nhân, bác sỹ sẽ có chỉ định phác đồ tiêm insulin và liều dùng cụ thể.

3.6. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hấp thụ insulin:

+ Vị trí tiêm và đường vào

– Đường vào: Tiêm/ truyền tĩnh mạch (hấp thu nhanh, thường dùng trong cấp cứu); tiêm dưới da (thường dùng nhất).

– Vị trí tiêm: Các vị trí tiêm Insulin dưới da khác nhau sẽ làm cho Insulin vào máu với tốc độ nhanh chậm khác nhau:

* Vùng bụng: Insulin vào máu nhanh nhất.

* Vùng cánh tay: Insulin vào máu chậm hơn so với vùng bụng

* Vùng mông, đùi: Insulin vào máu chậm nhất

Mỗi vùng trên cơ thể được chia ra theo các ô như hình vẽ. Mỗi ô vuông là một vị trí tiêm.

+ Nhiệt độ môi trường xung quanh: nhiệt độ cao làm tăng hấp thu.

+ Hoạt động thể lực sau khi tiêm làm tăng tốc độ hấp thu insulin.

+ Massage nơi tiêm làm tăng tốc độ hấp thu.

3.7. Sử dụng và bảo quản Insulin

Tiêm Insulin dưới da nên thay đổi các vị trí tiêm cụ thể (xoay vòng) ngày này qua ngày khác; có thể đổi vị trí tiêm (tay phải sang tay trái) hoặc bằng cách chọn điểm tiêm ngày sau cách 2,5cm so với điểm tiêm ngày trước đó để tránh áp-xe tại nơi tiêm.

3.7.1. Bảo quản Insulin:

Insulin được bảo quản ở nhiệt độ từ 2C – 8oC, ở nhiệt độ này thì dù Insulin đã bị mở cũng sử dụng được trong vòng 90 ngày, trong khi ở nhiệt độ thường (15-20oC) chỉ dùng được trong vòng 1 tháng. Nếu để ở nhiệt độ trên 30oC Insulin bị giảm hiệu quả điều trị.

3.7.2. Kỹ thuật tiêm Insulin: gồm 4 bước

+ Bước 1: Chọn vị trí tiêm và khử trùng nơi tiêm bằng cồn 70oC

+ Bước 2:

– Làm căng bề mặt da vùng sát trùng

– Đâm nhanh kim thẳng đứng vuông góc với mặt da (90o)

+ Bước 3: Đẩy piston để thuốc vào cơ thể.

+ Bước 4 : Rút kim nhanh và sát trùng vùng tiêm

  1. Phụ lục

4.1. Hướng dẫn kỹ thuật tiêm Insulin

Nếu tiêm một loại insulin

  1. Rửa sạch tay
  2. Để trộn đều insulin, lăn tròn lọ insulin giữa hai bàn tay. Không được lắc.
  3. Dùng bông cồn sát trùng nắp lọ insulin.
  4. Bỏ nắp nhựa trên kim tiêm và syringe. Kéo pittong xuống để lấy một lượng không khí vào syringe đúng bằng liều insulin định lấy.
  5. Đẩy lượng không khí từ syringe vào lọ insulin – để lấy insulin dễ dàng hơn.
  6. Vẫn giữ kim trong lọ insulin, nâng lọ lên (hoặc dốc ngược xuống), kéo pittong để rút insulin từ trong lọ ra syringe. Dừng pittong dưới một chút so với liều insulin định lấy.
  7. Đẩy ngược pittong lại đến mức insulin cần lấy. Nếu có bóng khí trong syringe, gõ nhẹ vào syringe để đuổi khí ra đến khi không còn khí trong syringe.
  8. Dùng bông cồn sát trùng da nơi định tiêm, đưa bông xoay tròn nhẹ nhàng trên da.
  9. Dùng ngón cái và ngón trỏ /ngón giữa nhấc da xung quanh vùng tiêm để đảm bảo không tiêm insulin vào phần cơ.
  10. Tiêm insulin theo góc 90oso với da; giữ phần da gấp trong suốt thời gian tiêm.
  11. Giữ kim tại chỗ khoảng 6 giây để tránh chảy máu và rò rỉ insulin.
  12. Dùng bông cồn sát trùng lại nơi tiêm

* Nếu tiêm nhiều loại insulin 

Nếu trộn insulin bán chậm (dịch đục, insulin NPH hoặc lente) với insulin nhanh (dịch trong, insulin thường), luôn luôn phải trộn trong vào đục (lấy insulin nhanh trước và trộn insulin bán chậm vào sau).

  1. Rửa sạch tay
  2. Dùng bông cồn sát trùng nắp các lọ insulin.
  3. Lăn tròn lọ insulin giữa hai bàn tay để trộn đều insulin. Không được lắc lọ.
  4. Bỏ nắp nhựa trên kim tiêm và syringe. Kéo pittong xuống để lấy một lượng không khí vào syringe đúng bằng liều insulin NPH hoặc Lente định lấy.
  5. Đẩy không khí từ syringe vào lọ insulin NPH/ Lente để lấy insulin dễ dàng hơn.
  6. Rút kim và syringe ra khỏi lọ insulin NPH/ Lente.
  7. Tiếp tục lấy một lượng không khí vào syringe đúng bằng liều insulin Regular định lấy.
  8. Đẩy không khí từ syringe vào lọ insulin Regular.
  9. Vẫn giữ kim trong lọ insulin Regular, nâng lọ lên (hoặc dốc ngược xuống), kéo pittong để rút insulin từ trong lọ ra syringe. Dừng pittong dưới một chút so với liều insulin định lấy.
  10. Đẩy ngược pittong lại đến mức insulin Regular cần lấy. Nếu có bóng khí, gõ nhẹ vào syringe để đuổi khí ra đến khi không còn khí trong syringe chứa insulin Regular.
  11. Rút syringe chứa insulin Regular ra, đâm kim vào lọ insulin NPH/ Lente đã được bơm khí vào lúc trước.
  12. Giữ kim trong lọ insulin NPH/ Lente, nâng lọ lên (hoặc dốc ngược xuống), kéo pittong để rút insulin NPH/ Lente từ trong lọ ra syringe. Dừng pittong dưới một chút so với tổng liều insulin định lấy (tổng liều Insulin Regular + NPH/ Lente).
  13. Kiểm tra và đuổi khí nếu có bóng khí trong syringe chứa Regular + NPH/ Lente.
  14. Dùng bông cồn sát trùng da nơi định tiêm, đưa bông xoay tròn nhẹ nhàng trên da.
  15. Dùng ngón cái và ngón trỏ /ngón giữa nhấc da xung quanh vùng tiêm để đảm bảo không tiêm insulin vào phần cơ.
  16. Tiêm insulin theo góc 90oso với da; giữ phần da gấp trong suốt thời gian tiêm.
  17. Giữ kim tại chỗ khoảng 6 giây để tránh chảy máu và rò rỉ insulin.
  18. Dùng bông cồn sát trùng lại nơi tiêm

* Lưu ý:

  1. Bệnh nhân nên dự trữ thêm 1 lọ insulin để có sẵn trong trường hợp khẩn cấp và những ngày ốm mệt (cho dù không tiêm insulin hàng ngày).
  2. Không tiêm insulin đã hết hạn sử dụng. Kiểm tra hạn dùng trên lọ insulin.

Không để lọ insulin ở nhiệt độ đóng băng. Phải vứt bỏ lọ insulin nếu thấy trong đó có các hạt không trộn được.

Trang Điện Tử Khoa gây mê hồi sức B, bệnh viện TW Huế Mọi thông tin xin gửi về: [email protected] Năm xuất bản: 2013

Hoạt động