MENU
LIÊN KẾT

GÂY MÊ CHO BỆNH NHÂN NGOẠI TRÚ

Zemanta Related Posts Thumbnail

Lợi ích của phẫu thuật ngoại trú: tiết kiệm chi phí nằm viện, Bn vận động sớm hơn, thuận lợi cho Bn, giảm nguy cơ nhiễm trùng bệnh viện.

Để đáp ứng với phẫu thuật mổ ngoại trú, các kỹ thuật GMHS phải phù hợp, cũng như xử trí gây mê trong các giai đoạn trước, trong và sau mổ.
Muốn vậy bệnh nhân phải được khám trước mê và chuẩn bị dặn dò BN cẩn thận.

I. GIAI ĐOẠN TRƯỚC MỔ:

1. Lựa chọn phẫu thuật:

– Những PT đơn giản.

– Thời gian mổ ngắn.

– Ít cần chăm sóc đặc biệt sau mổ.

BN cần theo dõi tại phòng hồi tỉnh ít nhất 2 giờ. PT ngoại trú không thích hợp cho những BN đòi hỏi chăm sóc đặc biệt sau mổ do những bệnh lý nội khoa đi kèm hay do tính chất của PT đòi hỏi sau đó.

* Chống chỉ định:

– Những PT có thể gây biến chứng sau mổ.

– PT cần truyền dịch, truyền máu nhiều.

– BN cần bất động lâu sau mổ.

– BN cần được giảm đau bằng đường tĩnh mạch, tê NMC.

Một trong những PT ngoại trú còn nhiều bàn cãi là cắt amygdales và nạo VA, vì có khoảng 3% BN bị chảy máu sau mổ cần can thiệp. Chảy máu sau cắt amygdales thường không xảy ra ngay mà có thể tới 12 giờ sau mổ.Vì vậy nhiều nơi cho phép mổ cắt amygdales từ buổi sáng để có nhiều thời gian theo dõi sau mổ, nhưng một số nơi khác không coi cắt amygdales là PT ngoại trú.

2. Lựa chọn BN:

Theo ASA thì những BN có ASA I và II được phép mổ ngoại trú. Một số bệnh viện có thể chấp nhận ASA III ổn định, thậm chí ASA IV nếu PT chỉ hạn chế và đơn giản hoặc việc nhập viện mang lại nhiều nguy cơ cho BN.

* Điều kiện:

– BN phải hiểu biết và hợp tác với bảng chỉ dẫn trước và sau mổ.

– Nơi cư trú ở gần bệnh viện (không quá 30 phút).

– Có người thân chăm sóc khi xuất viện về nhà.

Tuổi tác không phải là chống chỉ định PT ngoại trú, trừ trường hợp:

– Bệnh nhi có tiền căn sơ sinh thiếu tháng, tuổi hiện nay dưới 60 tuần.

– Nhũ nhi với bệnh sử loạn sản phế quản phổi hay có giai đoạn ngưng thở trong vòng 6 tháng vừa qua.

– Trẻ có anh chị em ruột bị đột tử trong giai đoạn nhũ nhi.

Vì nhóm này có nguy cơ ngưng thở sau mổ, cần theo dõi sát 24 giờ sau mổ.

Còn nhóm BN lớn tuổi có thể mổ ngoại trú nhưng cần theo dõi nhiều giờ hơn ở phòng hồi tỉnh cho tới khi phục hồi đầy đủ các kỹ năng tâm thần- vận động.

Trẻ em và người già hưởng được hiều lợi ích của PT ngoại trú, vì họ rất nhạy cảm với những tác động bất lợi do nhập viện.

3. Đánh giá trước mổ và các xét nghiệm tiền phẫu:

Đánh giá trước mổ ngoại trú có những điểm khác biệt so với mổ nội trú. Việc đánh giá BN ngày trước mổ rất quan trọng, vì nguy cơ gây mê có thể nguy hiểm hơn nguy cơ phẫu thuật. Nhờ khám tiền mê có thể giảm được các cuộc hoãn mổ hay chậm trễ do đánh giá và chuẩn bị chưa đầy đủ.

BN mổ ngoại trú cần làm các xét nghiệm tiền phẫu giống như BN mổ nội trú, tùy thuộc vào tuổi, tình trạng sức khỏe, bệnh lý kèm theo, thuốc đang điều trị…

4. Tiền mê:

Tiền mê cho BN ngoại trú giống như BN nội trú.

Thuốc tiền mê thường dùng: Midazolam (ít tác dụng phụ, tỉnh nhanh).

Clonidine (Catapressan) là thuốc kích thích thụ thể alpha 2 có thời gian tác dụng ngắn, có thể sử dụng tiền mê (uống) giúp an thần, tăng hiệu quả thuốc mê, giảm phản xạ giao cảm khi đặt NKQ.

II. GÂY MÊ CHO BỆNH NHÂN NGOẠI TRÚ:

* Yêu cầu:

– Dẫn đầu nhanh và êm dịu.

– Giảm đau.

– Làm quên trong mổ thật tốt.

– Thuận tiện cho PT.

– Giai đoạn hồi tỉnh ngắn không có biến chứng.

1. Gây mê toàn thân:

– Gây mê NKQ.

– Gây mê mask, mask TQ (tránh dùng cho Bn có nguy cơ trào ngược, hay chảy máu đường hô hấp trên).

* Thuốc mê thường dùng:

– Thuốc tiền mê: Midazolam (0,2 – 0,4 mg/kg IV).Tránh dùng Diazepam (Seduxen)

– Thuốc giảm đau Morphiniques: Fentanyl, Sufentanil, Alfentanil. Tránh dùng Morphin và Pethidine (tác dụng phụ nhiều và kéo dài).

– Thuốc mê tĩnh mạch : Thiopental, Propofol (mê nhanh, êm dịu, tỉnh nhanh, ít tác dụng phụ hơn so với các thuốc mê khác). Tránh dùng Ketamine (ảo giác, lâu tỉnh).

– Thuốc mê hô hấp: Halogenes (Desflurane, Sevoflurane, Isoflurane).

– Thuốc dãn cơ: Succinylcholine và các thuốc giãn cơ có thời gian tác dụng trung bình (Atracurium, Vecuronium, Rocuronium).

– Neostigmine có thể được dùng để hóa giải thuốc giãn cơ nếu cần thiết.

2. Gây tê vùng:

– Gây tê tủy sống, tê NMC, tê đám rối, tê tại chỗ…áp dụng được cho BN ngoại trú.

Tuy nhiên, đối với tê tủy sống, tê NMC có thể trì hoãn việc xuất viện như hạ HA, phong bế vận động, cảm giác kéo dài, bí tiểu…Tránh dùng gây tê đám rối trên xương đòn, vì có thể gây tràn khí màng phổi.

Nếu phối hợp thuốc an thần khi gây tê, chức năng vận động, tâm thần có thể bị ức chế nhiều giờ sau mổ.

3. Giảm đau sau mổ:

Tiêm hay uống thuốc giảm đau non-steroids, paracetamol, gây tê TK vùng mổ hay tê thấm vết mổ.

III. TIÊU CHUẨN XUẤT VIỆN:

1. Định hướng được bản thân, nơi chốn, thời gian.

2. Các dấu hiệu sinh tồn ổn định 30 – 60 phút.

3. Đi lại được không cần giúp đỡ (không bắt buộc ở mọi BN).

4. Nói được (không bắt buộc ở mọi BN).

5. Không đau, không chảy máu.

* Đối với BN được gây tê vùng: phục hồi cảm giác, vận động hoàn toàn, phục hồi trương lực giao cảm, chức năng bàng quang.

* Tất cả BN ngoại trú phải được một người nhà đi kèm và chăm sóc qua đêm.

* Cung cấp cho BN bảng chỉ dẫn sau mổ, những việc cần làm, cách gọi giúp đỡ, gọi cấp cứu.

* BN được xuất viện không đồng nghĩa với việc cho BN được quyết định những việc quan trọng, lái xe hay đi làm lại. Những việc này yêu cầu BN đã phục hồi tinh thần- vận động hoàn toàn sau mổ (cần 24- 72 giờ sau mổ).
* Lưu số ĐT để cần BN và GĐ BN và BS có thể liên hệ giải quyết nếu có bất trắc khi BN xuất viện

* BSGM hay PTV là người quyết định cho BN xuất viện.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Trang Điện Tử Khoa gây mê hồi sức B, bệnh viện TW Huế Mọi thông tin xin gửi về: [email protected] Năm xuất bản: 2013
Hoạt động